Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019

Lược sử ngành nghề ngân hàng (P2): JPMorgan khiến thay nhiệm vụ của Fed

Adam Smith và nhà băng tiến bộ

Ngân hàng đã được xây dựng tốt ở Đế quốc Anh khi Adam Smith xuất hiện tham gia năm 1776 với lý thuyết "bàn tay vô hình" của ông. Được thôi thúc bởi quan niệm của ông về một nền kinh tế "tự nhân tố chỉnh", các viên chức nhà băng và chủ nhà băng đã cố gắng hạn chế nhạo sự tham gia của nhà nước trong ngành nhà băng và cục bộ nền kinh tế. Chủ nghĩa tư phiên bản thị trường tự do và ngân hàng cạnh tranh này đã mua thấy mảnh đất phì nhiêu ở Quả đât mới, nơi Mỹ đã sẵn sàng hình thành.

Thuở đầu, những ý tưởng của Smith không có lợi cho ngành nhà băng Mỹ. Vòng đời làng nhàng của một nhà băng ở Mỹ là 5 năm, sau đó hầu hết giấy bạc từ các ngân hàng bị mặc định trở nên vô trị giá. Rút cục, các nhà băng có vốn nhân tố lệ nhà nước này chỉ có thể sản xuất giấy bạc đối với tiền quà và bạc mà họ dự trữ trong kho.

Một vụ cướp nhà băng có ý nghĩa lớn hơn phổ thông so với hiện tại, trong thời quần chúng ta đều được tiếp xúc với bảo hiểm tiền gửi và Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC). 

Alexander Hamilton, Bộ trưởng Vốn đầu tư khi đó, đã xây đắp một nhà băng non sông chấp thuận giấy bạc tại nhà băng thành viên là ngang giá, do đó, nhờ đó mà các ngân hàng sinh tồn qua giai đoạn khó khăn. Ngân hàng quốc gia này, sau một số lần lâm thời dừng, tiếp tục, hủy bỏ và hồi sinh, đã phát triển một loại tiền tệ giang sơn hợp nhất và tạo lập một chuỗi hệ thống mà các ngân hàng non sông ủng hộ giấy bạc của họ bằng bí quyết sắm chứng khoán Kho bạc, trong khoảng đó tạo ra một thị trường thanh khoản. Phê chuẩn việc áp thuế đối với các ngân hàng không làm theo pháp luật, các nhà băng quốc gia đã tăng nhanh khó khăn thông thường.

Tất nhiên, thiệt hại là không thể phủ nhận bởi người Mỹ ngày càng mếch lòng tin vào các nhà băng và chủ ngân hàng nói chung. Cảm giác này khiến tiểu bang Texas đích thực đặt ra quy tắc cho các chủ nhà băng, một đạo luật tồn tại tới năm 1904.

Nhà băng thương nghiệp

Đa số các nhiệm vụ kinh tế sẽ được xử lý bởi chuỗi hệ thống nhà băng quốc gia, khi mà đó việc buôn bán như cho vay và vốn đầu tư công ty thường rơi vào tay các nhà băng thương nghiệp lớn, do vì hệ thống nhà băng giang sơn thường rất rời rạc. Trong giai đoạn bất ổn kéo dài cho đến những năm 1920, các ngân hàng thương mại này đã sản xuất các đoàn kết mang tính quốc tế về cả sức mạnh chính trị và vốn đầu tư

Những nhà băng này bao gồm Goldman Sachs, Kuhn, Loeb, và J.P. Morgan. Ban sơ, họ phụ thuộc rất nhiều vào hoa hồng trong khoảng việc bán trái khoán nước ngoài từ châu Âu, với một nhánh nhỏ tuổi của đàm phán trái phiếu Mỹ ở châu Âu. Yếu tố này cho phép họ xây đắp nguồn vốn.

Tham gia thời điểm đó, một nhà băng không có bổn phận pháp lý phải mách nhỏ số tiền dự trữ vốn của bản thân, một dấu hiệu cho thấy khả năng sống sót của các khoản cho mượn lớn. Thực tại bí hiểm này đồng nghĩa tăm tiếng và lịch sử của một nhà băng quan trọng hơn bất cứ vấn đề gì. Dường như các ngân hàng mới nổi thành lập và tan rã chớp nhoáng, thì các gia tộc chiếm hữu ngân hàng thương mại có lịch sử lâu đời về những thương vụ chiến thắng. Khi ngành kĩ nghệ lớn hình thành và phát hành nhu cầu về tài chính doanh nghiệp, số lượng vốn cần thiết chẳng thể được cung cấp đủ bởi bất cứ một ngân hàng cô quạnh nào, và bởi vậy, IPO và chào bán trái phiếu tới dân chúng biến thành bí quyết độc nhất để tăng lượng vốn quan trọng.

Quần chúng ở Mỹ và các nhà đầu tư nước ngoài ở Châu Âu biết rất ít về đầu tư, do thực tiễn là việc báo cáo thông tin không được thực thi một phương pháp hợp pháp. Những vấn đề này đa phần bị bỏ lỡ khi đại chúng bắt đầu nhận thức về sự sinh tồn các nhà băng bảo lãnh tạo ra. Bởi thế, các phục vụ thắng lợi đã khiến tăng tiếng tăm của một nhà băng giúp nó được quyền đòi hỏi phổ thông hơn. Tham gia cuối những năm 1800, phổ biến nhà băng đòi hỏi một vị trí trong hội đồng quản trị của các tổ chức kinh doanh tìm kiếm vốn, và ví như ban chỉ huy không thể khiến cho tốt, họ tự điều hành các công ti.

Morgan và sự độc quyền

J.P. Morgan and Company nổi lên như một trong các ngân hàng thương nghiệp bậc nhất vào cuối những năm 1800. Nó được liên hiệp trực tiếp với London, sau này trở thành trọng điểm tài chính của nhân loại và có mai dong chính trị khác lạ ở Mỹ. Morgan and Co. đã sản xuất US Steel, AT & T, và International Harvestester, cũng như các công ti độc quyền và phần nhiều độc quyền trong ngành nghề công nghệ trục đường sắt và vận chuyên chở biển, ưng chuẩn việc dùng niềm tin và sự coi thường Đạo luật chống độc quyền của Sherman.

Dù rằng tham gia buổi rạng đông của những năm 1900, các nhà băng thương nghiệp được xây cất và hoạt động tương đối bình ổn, người Mỹ bình thường rất không dễ dàng có thể mượn được tiền từ họ. Các nhà băng này đã không lăng xê và họ thi thoảng khi mở rộng nguồn hỗ trợ cho những phân khúc "dân dã". Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc cũng lan rộng và, mặc dầu các chủ nhà băng Do Thái và Anh - Mỹ phải khiến cho việc cùng nhau trong các nhân tố lớn, khách hàng của họ đã bị phân phối theo các tầng lớp và chủng tộc rõ ràng. Các ngân hàng này đã để lại các khoản vay tiêu dùng cho các nhà băng tí hon hơn đang thất bại ở mức báo động.

Khủng hoảng năm 1907

Sự kiện cũ kĩ phiếu của một công ty ủy thác sụp đổ đã gây ra sự hồi hộp làm cho quần chúng đổ xô rút tiền ra khỏi ngân hàng và các khoản đầu cơ, khiến cho cổ lỗ phiếu lao dốc. Không có Nhà băng Dự trữ Liên bang hành động để trấn an công chúng, nhiệm vụ đã rơi tham gia JP Morgan, bằng cách sử dụng lực lượng của chính mình, tập hợp toàn bộ những tay to trên Phố Wall nhằm điều động nguồn hỗ trợ và vốn mà họ kiểm soát, giống như Fed sẽ khiến bây giờ.

Mỹ Linh

Theo Trí thức trẻ/Investopedia


Đọc thêm: bds

0 nhận xét:

Đăng nhận xét